Tìm Kiếm

Tìm
Chấn lưu là gì?
Không giống như các đèn sợi đốt, các đèn phóng điện không thể mắc trực tiếp vào lưới điện. Trước khi dòng điện ổn định bằng một cách nào đó thì chúng đã tăng và tăng mạnh làm đèn bị quá đốt nóng và phá hủy. Độ dài và đường kính của dây tóc trong đèn sợi đốt chính làm hạn chế dòng chạy qua nó và điều chỉnh ánh sáng phát ra. Thay vì dây tóc, đèn phóng điện dùng hiệu ứng hồ quang điện nên nó cần đến phần tử gọi là "chấn lưu" để trợ giúp cho việc phát sáng.
Chấn lưu có ba công dụng chính:
  • Cung cấp thế hiệu khởi động một cách chính xác bởi vì đèn cần thế hiệu khởi động lớn hơn thế hiệu làm việc
  • Làm hợp điện thế nguồn về giá trị điện thế làm việc của đèn
  • Hạn chế dòng để tránh đèn bị hỏng bởi vì khi hồ quang xuất hiện thì tổng trở của đèn sẽ giảm (hiệu ứng điện trở vi phân âm)
Đầu tiên đèn được coi như một khối khí không dẫn giữa hai điện cực. Chấn lưu cần phải cung cấp điện thế để tạo hồ quang giữa hai điện cực. Hiệu điện thế này được cấp bởi bộ biến áp nằm trong chấn lưu và đôi khi nó được sự trợ giúp của tắcte(starter) để tạo xung cao thế. Khi khí trong đèn đã bị iôn hóa, điện trở của đèn sẽ giảm rất nhanh tránh cho điện cực không bị đốt quá nóng. Khi dòng điện đã chạy qua dòng hồ quang khí sẽ nóng lên và tạo áp suất trong ống phóng điện. Áp suất này làm tăng điện trở của dòng hồ quang dẫn đến việc tiếp tục đốt nóng khí và nâng cao áp suất. Chấn lưu cần phải điều khiển thế và dòng để đèn làm việc ổn định tại công suất danh định. Thiếu việc điều khiển dòng của chấn lưu, áp suất sẽ tăng cho đến khi thế đặt vào hai điện cực sẽ giảm, iôn hóa sẽ tắt và đèn sẽ ngừng làm việc.
Nếu chấn lưu không thích hợp chúng sẽ khiến đèn làm việc trong trạng thái không tối ưu. Kết quả là đèn không làm việc tại đúng công suất và sẽ không phát đúng ánh sáng, tuổi thọ chúng sẽ giảm đi. Chấn lưu cần phải cung cấp đúng hiệu điện thế danh định để khởi động và duy trì hồ quang và cần phải điều khiển dòng để đèn làm việc đúng công suất

Những đặc trưng cơ bản của chấn lưu
Để lựa chọn chấn lưu cho các ứng dụng trên thực tế cần để ý đến 3 thông tin là loại đèn, số lượng đèn mà chấn lưu phải làm việc đồng thời và hiệu điện thế lối vào của hệ thống chiếu sáng. Sau khi đã xác định 3 tham số đó thì chấn lưu sẽ được lựa chọn tiếp tục dựa trên các đặc trưng sau.
Công suất lối vào
Đó là tổng công suất cần thiết để cả chấn lưu và đèn làm việc như một thể thống nhất. Ta không thể tính công suất lối vào như tổng số học của công suất chấn lưu cộng công suất đèn bởỉ vì đa số chấn lưu không điều khiển đèn làm việc hết công suất danh định. Do vậy công suất lối vào là một đại lượng cần đo chính xác sau khi xác định đúng công suất của đèn đang làm việc.
Mất mát công suất của chấn lưu là phần công suất tổn hao riêng của chấn lưu. Nếu tổn hao này xác định được thì công suất lối vào là tổng của tổn hao này cộng với công suất đèn. Tuy nhiên việc tính này có thể dẫn đén sai phạm nếu ta không chắc chắn rằng đèn làm việc hết công suất danh định.
Điện thế lối vào
Mỗi chấn lưu làm việc với điện thế danh định ghi trên nhãn của chấn lưu. Nếu dùng không đúng thế danh định này có thể gây hỏng chấn lưu hoặc đèn hoặc cả chấn lưu và đèn. Khuyến cáo một khoảng hạn chế của thế hiệu lối vào xung quanh giá trị thế hiệu danh định như sau:
Hiệu điện thế định mức
Khoảng hiệu điện thế lối vào
120
208
220
240
250
277
347
480
112-127
199-216
210-230
225-250
235-260
255-290
322-365
450-500
Chấn lưu điện tử có thể làm việc với hiệu điện thế
lối vào trong khoảng 10% hiệu điện thế định mức
Dòng điện lối vào
Đó là dòng điện tiêu thụ danh định của chấn lưu và đèn. Đối với đa số chấn lưu chỉ có một giá trị dòng điện lối vào được chỉ định. Đối với một số chấn lưu khác, ví dụ như chấn lưu điện từ dùng cho đèn huỳnh quang thu gọn có dòng làm việc, dòng khởi động, dòng hở mạch. Có khả năng là dòng khởi động và dòng mạch hở lớn hơn dòng làm việc. Dòng lớn nhất phải được chú ý để thiết kế đúng mạch của hệ thống chiếu sáng, của mạch khởi động, của cầu chì bảo vệ… ngược lại có thể gây hỏng cho hệ thống.
Hệ số công suất PF
Hệ số công suất xác định tương quan giữa hai loại công suất: hữu công và vô công. Hữu công đo bằng kilowatts (KW). Đó là công mà hệ thống thực hiện chuyển động, sản ra nhiệt hoặc những thứ tương tự. Vô công đo bằng kilovolt- amperes vô công (KVAR). Hai loại công này chung lại tạo ra công biểu kiến đo trong đơn vị kilovolt-amperes (KVA). Cuối cùng hệ số công suất chính là tỷ số giữa hữu công và công biểu kiến,  KW/KVA.
Hệ số công suất của chấn lưu xác định hiệu quả chuyển hóa của thế hiệu và dòng điện của nguồn điện thành công suất tiêu thụ của chấn lưu và đèn. Sự tận dụng hiệu quả dòng điện khiến hệ số công suất đạt giá trị 100%. Hệ số công suất không phải là chỉ số xác định khả năng của chấn lưu tạo ra ánh sáng của đèn.
Chấn lưu được thiết kế có hệ số PF cao hoặc thường (nghĩa là thấp) hoặc có PF thích ứng. Loại có PF cao dùng trong các chiếu sáng thương mại có giá trị lớn hơn 90%. Chấn lưu loại PF cao dùng dòng khởi động thấp hơn loại có PF thấp, do vậy cùng một chỗ có thể lắp đặt nhiều chóa đèn hơn. Loại chấn lưu có PF thấp thường có dòng khởi động lớn gấp đôi loại có PF cao. Chúng đòi hỏi phí tổn dây nối nhiều hơn vì trong cùng một nhánh đèn số chóa đèn lắp đặt được ít hơn, do vậy có thể gây quá tải đối với toàn mạng và có thể bị các nhà cung cấp điện bắt phạt.
Hệ số chấn lưu
Do chấn lưu là một phần tử tích hợp của hệ thống chiếu sáng nên chúng có ảnh hưởng trực tiếp lên thông lượng ánh sáng phát ra. Hệ số chấn lưu BF là đại lượng đánh giá khả năng của chấn lưu tạo ra ánh sáng từ đèn. Đó là tỷ số giữa thông lượng của cùng một đèn phát ra khi dùng chấn lưu đang quan tâm và khi dùng chấn lưu chuẩn theo tiêu chuẩn của ANSI.
BF khi nhân với lumen của một đèn và số lượng đèn sẽ thành số lumen tổng cộng mà hệ thống gồm chấn lưu và các đèn đó phát ra. Một chấn lưu có thể có nhiều giá trị BF khác nhau cho những đèn khác nhau. Thí dụ chấn lưu điện từ dùng với đèn tiêu chuẩn có BF bằng 95% trong khi dùng với đèn tiết kiệm năng lượng có BF bằng 88%.
Nói chung BF của chấn lưu nhỏ hơn 1, chấn lưu loại đặc biệt có BF lớn hơn 1. Để tiết kiệm năng lượng thường chọn chấn lưu với BF thấp nhất. Tuy nhiên nếu chọn như vậy thì mức ánh sáng phát ra sẽ thấp. Do vậy phải xuất phát chọn BF trên cơ sở đảm bảo độ chiếu sáng, sử dụng những lời khuyên của nhà sản xuất để chọn BF tối ưu.
Hệ số hiệu suất của chấn lưu
Hệ số hiệu suất của chấn lưu là tỷ số giữa hệ số chấn lưu BF (tương  ứng  với  khả  năng  của chấn lưu trong việc phát ánh sáng) và công suất lối vào của chấn lưu. Đại lượng này dược dùng để so sánh các chấn lưu khác nhau khi sử dụng chúng chung cùng với một loại đèn. Hệ số này càng cao thì chấn lưu càng hiệu suất. Nếu lấy hệ số này nhân với lumen của một đèn và nhân với số đèn ta nhận được hiệu suất lumen trên watt.
LPW càng cao thì hệ đèn và chấn lưu càng hiệu suất. Đại lượng này có thể dùng để so sánh các loại hệ thống đèn và chấn lưu khác nhau, thí dụ hệ thống chiếu sáng dùng đèn F32T8 và  F40T12.
Hệ số đỉnh
Hệ số đỉnh trong mạch xoay chiều là tỷ số giữa gía trị đỉnh của sóng và giá trị hiệu dụng của nó (căn của trung bình bình phương). Đèn và chấn lưu có các đặc trưng không tuyến tính là nguyên nhân  làm biến dạng dòng điện. Hệ số này là một trong các tiêu chí mà các nhà sản xuất dùng để bảo đảm tuổi thọ của đèn. Các nhà sản xuất và Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ yêu cầu hệ số đỉnh khoảng 1.7 hoặc nhỏ hơn đối với chấn lưu điện tử để đảm bảo tuổi thọ của đèn mà nó cùng làm việc. Đối với chấn lưu điện từ hệ số này là 1.7 cho các đèn loại khởi động nhanh và 1.85 cho khởi động tức thời. Dòng có hệ số đỉnh cao gây ra xói mòn vật liệu điện cực và làm giảm tuổi thọ của đèn.
Chống nóng
Tất cả các chóa đèn trong nhà và ngoài trời cần phải được chống nóng để hạn chế nhiệt độ của chấn lưu để bảo vệ chúng khỏi bị quá nóng. Những chấn lưu có toả nhiệt tốt được dánh dấu “loại P”.
Chấn lưu sắt từ và chấn lưu lai sử dụng bộ chống nóng (TP) như một phần của thiêt kế nằm ngay trong hộp của chấn lưu. Nếu chấn lưu quá nóng thì TP sẽ mở và ngắt nguồn điện vào chấn lưu cho đến khi nó nguội hẳn thì lại tự động nối nguồn điện lại.
EMI/RFI (Nhiếu giao thoa điện từ/ Giao thoa tần số radio)
Chấn lưu điện tử làm việc tại tần số cao có thể gây ảnh hưởng lên hoạt động  của các thiết bị phát bức xạ vùng hồng ngoại, các dây dẫn trực tuyến và các thiết bị truyền thông. Có trường hợp không thể chống được nhiếu trong một số trường hợp khiến phải thay đổi chấn lưu có tần số thấp hơn. Do vậy cần phải cẩn thận khi quyết định lắp đặt những hệ thống chiếu sáng mới.
Tạp âm của chấn lưu
Những tiếng rè của các hệ thống chiếu sáng dùng đèn phóng điện được tạo bởi những dao động của cuộn dây và lõi sắt từ của chấn lưu.
Tạp âm này được khuyếch đại theo 3 cách:
•  Do cách gắn chấn lưu lên chóa đèn.
•  Có phần tử nào đó trong chóa đèn bị lỏng. •  Do trần nhà, tường, nền nhà và các đồ đạc gây ra.


Việc lựa chọn chấn lưu của đèn phóng điện phải được tiến hành trên cơ sở gây tiếng ồn ít nhất cho khu vực quanh nó. Chấn lưu được phân theo tiếng ồn ra thành các loại ký hiệu từ A đến F. Vì chấn lưu điện tử không có những phần tử gây dao động và làm việc tại tần số cao nên chúng gây ít tiếng ồn hơn.
Để lựa chọn chấn lưu cho tốt ta cần để ý đến hiệu quả sử dụng. Nhớ rằng tiến ồn của chấn lưu ở trong các gia đình quan trọng hơn ở các công sở.
Điều khiển thế hiệu lối ra của chấn lưu
Đây là sự điều khiển thay đổi công suất lối ra của đèn như một hàm của thế hiệu lưới điện. Chấn lưu nào điều khiển tốt mối quan hệ này thì có thể sử dụng được trong khoảng thế hiệu rộng của lưới điện. Độ điều khiển này càng cao thì giá của chấn lưu càng đắt. Thông thường thông lượng ánh sáng phát ra thay đổi nhiều hơn là thay đổi của công suất của đèn HID. Thông lượng của HPS thay đổi gấp 1.2 lần so với thay đổi của công suất. Tương tự đối với đèn halide là 1.8. Điều này có nghĩa là đối với đèn halide cứ 10% thay đổi công suất đèn thì gây ra 18% thay đổi của thông lượng ánh sáng phát ra.
Nhiệt độ làm việc
Chấn lưu là nguồn phát nhiệt, cùng với nhiệt do đèn phát ra và các điều kiện của môi trường xung quanh khiến chấn lưu và tụ điện nằm trong vỏ của nó nóng lên. Tất cả các chấn lưu tiết kiệm năng lượng hiện nay được chế tạo dùng dây dẫn và cách điện chịu đưọc nhiệt độ 180°C.
Nhiệt độ của các phần tử tăng khiến tuổi thọ của chúng giảm đi. 10°C tăng của nhiệt độ làm việc có thể dẫn đến làm giảm một nửa tuổi thọ của phần tử. Nhiệt độ làm việc của lớp cách điện của chấn lưu là 180°C và của tụ điện là 90°C là những giá trị thí dụ cần để ý.
Việc dùng các lớp cách điện chịu được 180°C cùng với việc định vị chấn lưu tại vị trí thoát nhiệt và đặt tụ điện cách xa vùng nhiệt cực đại khiến hệ thống có thể làm việc tại nhiệt độ cao, thí dụ tại 40°C, 55°C và 65°C và duy trì được tuổi thọ của các phần tử của choá đèn HID.
Bộ tắc te có bảo vệ
Trong những điều kiện làm việc bình thường bộ tắc te của đèn HPS làm việc chỉ trong thời gian ngắn để khởi động đèn. Tuy nhiên nếu đèn làm việc tồi tắc te có thể phải làm việc suốt 24 tiếng trong một ngày. Nếu đèn không được thay đúng lúc thì tuổi thọ của chấn lưu và tắc te sẽ giảm. Điều này ảnh hưởng đến tất cả các chấn lưu và tắc te của tất cả các nhà sản xuất như nhau bởi vì mọi nhà sản xuất đều dùng một mạch khởi động và một hệ thống cách điện tương tự.
Bộ tắc te có bảo vệ được khuyến cáo làm việc trong điều kiện khi mà khó có thể thay đèn đúng lúc, chúng sẽ nhận ra đèn hỏng và tự ngắt xung trong vòng 3 đến 10 phút sau khi đèn được bật.

Phân loại chấn lưu
Chấn lưu sắt từ
Chấn lưu sắt từ có những loại sau:
•  Kiểu cuộn và lõi tiêu chuẩn
•  Kiểu cuộn và lõi hiệu suất cao
•  Kiểu cắt bỏ điện cực hay kiểu lai
Kiểu cuộn và lõi tiêu chuẩn
Bởi vì chấn lưu là bộ phận thiết yếu cho hoạt động của đèn, chúng phải có tuổi thọ lâu dài như đèn mà chúng khởi động và duy trì hoạt động. Trong một thời gian dài, chấn lưu của đèn huỳnh quang thuộc loại sắt từ. Do thiết kế của mình, những chấn lưu này được gọi là chấn lưu "cuộn & lõi".
Phần tử đầu tiên của chấn lưu sắt từ là lõi gồm nhiếu lá săt từ được quấn quanh mình bởi các dây đồng hoặc nhôm có tẩm lớp cách điện. Cuộn và lõi có chức năng làm việc như biến thế và hạn chế dòng (cuộn cảm). Nhiệt tỏa ra trong khi chấn lưu làm việc có thể làm thủng lớp cách điện và làm hỏng chấn lưu, do vậy cuộn và lõi được tẩm chất nhựa cách điện để tải nhiệt khỏi các cuộn dây. Tất cả các bộ phận này được đặt trong một hộp sắt.
Một phần tử khác của chấn lưu sắt từ là tụ điện. Tụ điện cho phép chấn lưu sử dụng năng lượng của nguồn điện một cách hiệu quả hơn. Những chấn lưu có tụ điện được gọi là chấn lưu "hệ số công suất cao" hoặc chấn lưu có "hệ số công suất hiệu chỉnh".
Chấn lưu sắt từ kiểu cuộn lõi hiệu suất cao
Chấn lưu hiệu suât cao dùng dây đồng thay dây nhôm và lá sắt từ thay lá thép chất lượng thấp làm tăng 10% hiệu suất. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng những chấn lưu "hiệu suât cao" này là những chấn lưu hiệu suất thấp của đèn huỳnh quang ống dài. Những chấn lưu hiệu suất cao hơn được xem xét dưới đây.
Chấn lưu lai (hoặc chấn lưu cắt điện cực)
Thiết kế của chấn lưu lai phối hợp những đặc trưng khởi động và làm việc của chấn lưu sắt từ với mạch điện tử tiết kiệm năng lượng tạo ra những cách khác nhau để  vận hành.

http://thegioidentrangtri.com/

Nhiệt độ màu là gì?

Nhiệt độ màu là một khái niệm được rút ra từ định luật bức xạ của Planck Chúng ta đều biết rằng một vật khi nóng thì nó sẽ phát sáng, quang phổ liên tục mà nó phát ra phụ thuộc vào nhiệt độ của vật, vì thế khi quan sát quang phổ của một vật nóng chúng ta có thể ước lượng được nhiệt độ của nó. Khi quan sát bức xạ của một vật đen tuyệt đối Planck đã phát hiện ra rằng ở một nhiệt độ T nhất định thì vật sẽ phát ra một quang phổ liên tục với cường độ sáng thay đổi theo tần số. Tần số ánh sáng được phát xạ mạnh nhất phụ thuộc vào nhiệt độ tuyệt đối của vật. (ví dụ một vật nếu có nhiệt độ là 1500K (khoảng hơn 1200 oC) thì sẽ phát ra ánh sáng có màu cam là mạnh nhất, vật có nhiệt độ là 3000K thì phát ra ánh sáng vàng mạnh nhất)

Thông thường ở nhiệt độ càng cao thì bức xạ mạnh nhất mà vật phát ra có bước sóng càng ngắn (thiên về màu xanh hoặc tím). Trong điều kiện chụp dưới ánh sáng thiên về màu nào thì ảnh thường bị ám màu đó (ví dụ ảnh chụp dưới ánh đèn tròn thì bị ám vàng, vì dây tóc bóng đèn làm bằng tunsten (wolfram) có nhiệt độ khi cháy sáng là 3200K). Vì lí do này, người ta dùng khái niệm nhiệt độ màu để chỉ bức xạ (ánh sáng) mạnh nhất được phát ra trong một điều kiện chiếu sáng nào đó. Chúng ta cần lưu ý rằng những vật có nhiệt độ cao thường phát ra bức xạ mạnh nhất ở màu xanh (trong nhiếp ảnh gọi là màu lạnh) ngược lại những vật có nhiệt độ thấp hơn lại phát ra bức xạ thiên về vàng hoặc cam (trong nhiếp ảnh gọi là màu nóng).

Sau đây là bảng nhiệt độ màu với một số nguồn sáng khác nhau:

  • 1000K Candles; oil lamps(Ánh nến, đèn dầu).
  • 2000K Very early sunrise; low effect tungsten lamps (Rạng đông (sớm hơn Bình minh), đèn Wolfram).
  • 2500K Household light bulbs (Bóng đèn sợi đốt).
  • 3000K Studio lights, photo floods (Ánh đèn trong phòng rửa ảnh).
  • 4000K Clear flashbulbs (Đèn huỳnh quang).
  • 5000K Typical daylight; electronic flash (Ánh sáng ban ngày, đèn flash điện tử).
  • 5500K The sun at noon (Trời trong, mặt trời trên đỉnh đầu).
  • 6000K Bright sunshine with clear sky (Ánh nắng trong điều kiện không mây).
  • 7000K Slightly overcast sky (Ánh nắng trong tình trạng trời mây).
  • 8000K Hazy sky (Trời nhiều mây).
  • 9000K Open shade on clear day (Bóng mát vào ngày trời trong).
  • 10,000K Heavily overcast sky (Trời nhiều mây đen, chuyển mưa).
  • 11,000K Sunless blue skies (Trời xanh không có mặt trời).
  • 20,000+K Open shade in mountains on a really clear day (Xế chiều, mặt trời khuất sau núi trong ngày đẹp trời).

Thực ra trong điều kiện chụp ở ngoài trời việc thiết lập cân bằng trắng phụ thuộc nhiều vào vị trí của mặt trời (thời điểm trong ngày) bởi vì trong điều kiện này chủ thể được chiếu sáng bởi ánh sáng tán xạ của mặt trời trong khí quyển (loại tán xạ này gọi là tán xạ Rayleigh). Thông thường khi bầu trời trong thì ánh sáng được tán xạ có màu xanh ứng với nhiệt độ phát xạ của vật đen tuyệt đối là 6000K do vậy nhiệt độ màu lúc này chúng ta đặt là 6000K. Khi trời có nhiều mây thì tán xạ Rayleigh của màu xanh trên nền trời bị giảm bớt, lúc này ánh sáng có bước sóng ngắn (ngắn hơn bước sóng của ánh sáng xanh) sẽ được tán xạ mạnh hơn vì vậy nhiệt độ màu lúc này phải đặt lớn hơn trong trường hợp trời quang mây. Đến đây thì chúng ta có một lí giải khá hợp lí cho việc thiết lập nhiệt độ màu trong các điều kiện khác nhau.

http://thegioidentrangtri.com/

Chọn đèn cho gương trang điểm?

   Ánh sáng là tối quan trọng khi trang điểm. Lượng ánh sáng thật, vừa phải sẽ giúp bạn có một cái nhìn chân thật về màu sắc da cũng như các loại phấn trang điểm. Vì vậy, cung cấp một lượng ánh sáng phù hợp cho bàn trang điểm, mà cụ thể là chiếc gương trang điểm nhà bạn là việc nên làm.

Nếu không muốn bỏ tiền ra mua mới một chiếc gương trang điểm chuyên dụng đã gắn sẵn đèn thì bạn vẫn có thể lắp thêm những bóng đèn cho chiếc gương hiện tại. Vzone xin giới thiệu với các bạn cách chọn đèn gương phù hợp cho một khuôn mặt thật tự nhiên.

1. Thế nào là một lượng ánh sáng vừa đủ?

Lượng ánh sáng chiếu vào mặt bạn lúc đứng trước gương cho bạn nhìn rõ toàn bộ khuôn mặt, không có vùng nào bị tối, bị đổ bóng. Rất nhiều người nhìn mặt mình trong gương thấy cằm và hốc mắt bị tối nên "trát" tương đối dày phấn vào các vùng này, nhưng thực chất họ lại đang làm quá tay. Điều này là hệ quả của ánh sáng gương trang điểm không tốt.

2. Chọn đèn gì cho gương trang điểm?

Bạn nên chọn loại bóng đèn huỳnh quang (đèn tuýp), sẽ cho ánh sáng gần với ánh sáng tự nhiên nhất. Cần đặc biệt tránh lắp đặt các đèn halogen hoặc bóng dây tóc (ánh sáng vàng) sẽ làm mặt vàng vọt, không thật. Ngoài ra. loại đèn này rất ảnh hưởng đến mắt và rất tốn điện.

3. Lắp đặt đèn ở vị trí nào và cần lưu ý điều gì?

Vị trí tốt nhất là đặt đèn tường ở hai bên đầu gương, ở tầm cao ngang mới tầm mắt (khoảng 1,5m - 1,6m nếu bạn đứng., hoặc 1m -1,2m nếu bạn ngồi).  Cũng có thể đặt đèn phía trên gương nhưng không quá cao.

Công tắc đèn nên được điều khiển riêng biệt với đèn chiếu sáng chung. Nên sử dụng chiết áp cho đèn gương để bạn có thể điều chỉnh độ sáng thích hợp khi trang điểm.

http://thegioidentrangtri.com/
 

Đèn LED là gì? và ứng dụng của nó?

LED là gì?

LED, viết tắt của Light-Emitting-Diode có nghĩa là “đi-ốt phát sáng”, là một nguồn sáng phát sáng khi có dòng điện tác động lên nó. Được biết tới từ những năm đầu của thế kỷ 20, công nghệ LED ngày càng phát triển, từ những diode phát sáng đầu tiên với ánh sáng yếu và đơn sắc đến những nguồn phát sáng đa sắc, công suất lớn và cho hiệu quả chiếu sáng cao.
Hoạt động của LED dựa trên công nghệ bán dẫn. Trong khối điốt bán dẫn, electron chuyển từ trạng thái có mức năng lượng cao xuống trạng thái có mức năng lượng thấp hơn và sự chênh lệch năng lượng này được phát xạ thành những dạng ánh sáng khác nhau. Màu sắc của LED phát ra phụ thuộc vào hợp chất bán dẫn và đặc trưng bởi bước sóng của ánh sáng được phát ra.
Điốt bán dẫn phát sáng đầu tiên được biết đến vào năm 1907 bởi nhà thí nghiệm người Anh H.J. Round tại phòng thí nghiệm Marconi khi ông làm thí nghiệm với tinh thể SiC(Silic và Cacbon). Sau đó, nhà khoa học Nga Oleg Vladimirovich Losev đã tạo ra LED đầu tiên, nghiên cứu sau đó đã bị quên lãng do không có ứng dụng nhiều trong thực tiễn. Năm 1955, Rubin Braunstein đã phát hiện ra sự phát xạ hồng ngoại bởi hợp chất GaAs(Gallium và Arsenide) và một số hợp chất bán dẫn khác.
Năm 1961, hai nhà thí nghiệm là Bob Biard và Gary Pittman làm việc tại Texas Instruments đã nhận thấy rằng hợp chất GaAs phát ra tia hồng ngoại khi có dòng điện tác động và sau đó Bob và Gary được cấp bằng sáng chế ra điốt phát hồng ngoại.

LED phát ánh sáng đỏ đầu tiên được phát triển vào năm 1962 bởi nhà nghiên cứu khoa học Nick Holonyak Jr. trong khi ông đang công tác tại công ty General Electric. Sau đó ông chuyển tới trường đại học Illinois và tại đây ông đã được gặp “cha đẻ của điốt phát xạ”, M. George Craford. George là người đã phát minh ra bóng LED có màu vàng đầu tiên có cường độ sáng gấp 10 lần ánh sáng của bóng LED màu đỏ và màu cam vào năm 1972. Năm 1976, T.P. Pearsall đã tạo ra LED hiệu suất cao có ứng dụng quan trọng cho lĩnh vực thông tin liên lạc bằng sợi quang.

Ứng dụng thực tiễn đầu tiên của điốt phát quang là chúng được sử dụng rộng rãi thay thế cho thiết bị chỉ thị bằng bóng sợi đốt. Điốt còn được ứng dụng trong việc chế tạo LED 7 thanh và sau này là ứng dụng trong tivi, radio, điện thoại, máy tính, đồng hồ…Ban đầu, các LED ánh sáng đỏ chỉ đủ sáng phục vụ cho mục đích chỉ thị, ánh sáng của chúng phát ra không đủ để chiếu sáng cả một vùng. Sau đó, khi mà công nghệ LED phát triển, các nguồn LED có hiệu suất phát sáng hiệu quả được phát minh dần dần phục vụ cho mục đích chiếu sáng. Nhất là việc phát minh và phát triển LED công suất cao, đã đáp ứng được hoàn toàn cho việc chiếu sáng.
Nguyên lý
Giống như những điốt thông thường, LED bao gồm hai lớp bán dẫn loại p và n ghép vào nhau. Khối bán dẫn loại p(anốt) chứa nhiều lỗ trống có xu hướng chuyển động khuếch tán sang khối bán dẫn loại n(catốt), cùng lúc khối bán dẫn loại p lại nhận các electron từ khối bán dẫn loại n chuyển sang. Kết quả là hình thành ở khối p điện tích âm và khối n điện tích dương.

Ở bề mặt tiếp giáp giữa hai khối bán dẫn, các electron bị các lỗ trống thu hút và có xu hướng tiến lại gần nhau, kết hợp với nhau tạo thành các nguyên tử trung hoà. Quá trình này giải phóng năng lượng dưới dạng các photon ánh sáng.
Bước sóng của ánh sáng phát ra phụ thuộc vào cấu trúc của các phân tử làm chất bán dẫn. Nếu bước sóng này nằm trong dải bước sóng từ vùng hồng ngoại đến vùng tử ngoại, mắt chúng ta có thể cảm nhận được màu sắc của ánh sáng đó.

Màu sắc và vật liệu

Thông thường LED được tạo ra từ những hợp chất bán dẫn vô cơ, những hợp chất bán dẫn này rất đa dạng, dưới đây là bảng chỉ rõ màu sắc của LED phụ thuộc vào khoảng bước sóng, điện áp rơi và chất bán dẫn tạo ra LED.
  Màu sắc Bước sóng(nm) Điện áp rơi(V) Vật liệu
  Hồng ngoại λ>760 ΔV<1.9 Gallium Arsenide(Ga-As)
Aluminium Gallium Arsennde(AlGaAs)
  Đỏ 610<λ<760 1.63<ΔV<2.03 Aluminium Gallium Arsennde(AlGaAs)
Gallium Arsennde Phosphide(GaAsP)
Aluminium Gallium Indium Phosphide(AlGaInP)
Gallium(III) Phosphide(GaP)
  Da cam 590<λ<610 2.03<ΔV<2.10 Gallium Arsenide Phosphide(GaAsP)
Aluminium Gallium Indium Phosphide(AlGaInP)
Gallium(III) Phosphide(GaP)
  Vàng 570<λ<590 2.10<ΔV<2.18 Gallium Arsenide Phosphide(GaAsP)
Aluminium Gallium Indium Phosphide(AlGaInP)
Gallium(III) Phosphide(GaP)
  Lục 500<λ<570 2.18<ΔV<4.0 Indium Gallium Nitride(InGaN) / Gallium(III) Nitride(GaN)
Gallium(III) Phosphide(GaP)
Aluminium Gallium Indium Phosphide(AlGaInP)
Aluminium Gallium Phosphide(AlGaP)
  Lam 450<λ<500 2.48<ΔV<3.7 Zinc Selenide(ZnSe)
Indium Gallium Nitride(InGaN)
  Tím 400<λ<450 2.76<ΔV<4.0 Indium Gallium Nitride(InGaN)
  Tía   2.48<ΔV<3.7 Dual blue/red LEDs
Blue with red phosphor
White with purple plastic
  Tử ngoại λ<400 3.1<ΔV<4.4 Diamond(C)
Aluminium Nitride(AlN)
Aluminium Gallium Nitride(AlGaN)
  Trắng   ΔV = 3.5 Blue/UV diode with yellow phosphor


LED trắng
Có hai cách để tạo ra ánh sáng trắng bằng LED. Một là sử dụng những LED riêng biệt của ba màu cơ bản(đỏ, xanh lục, xanh lam), sau đó kết hợp ba màu lại với nhau để tạo ra ánh sáng trắng. Cách thứ hai là dùng bột huỳnh quang phủ lên bề mặt bóng LED của LED xanh lam hoặc UV LED, gần giống với cách phát sáng của đèn huỳnh quang.

Ưu điểm của LED
- Hiệu quả: LED có hiệu suất phát sáng cao hơn bóng sợi đốt.
- Màu sắc: LED có thể phát ra màu sắc như ý muốn mà không cần bộ lọc màu theo phương pháp truyền thống.
- Kích thước: Kích thước của bóng LED rất nhỏ(có thể nhỏ hơn 2 mm2) vì vậy có thể bố trí dễ dàng trên mạch in.
- Thời gian bật tắt nhanh: Led có thời gian bật và tắt rất nhanh kể từ lúc có tác động(micro giây). Điều này rất quan trọng trong thông tin liêc lạc, lĩnh vực yêu cầu có thời gian đáp ứng nhanh.
- Độ sáng tối: LED có thể dễ dàng điều khiển độ sáng tối bằng phương pháp điều chế độ rộng xung hoặc tăng giảm dòng điện tác động.
- Tuổi thọ đèn cao: Đây là ưu điểm lớn nhất của đèn LED, tuổi thọ của đèn LED vào khoảng 35000 đến 50000 giờ, lớn hơn nhiều lần so với bóng huỳnh quang và sợi đốt.
- Độ bền cao: LED được làm từ vật liệu bán dẫn, nên rất khó bị phá huỷ bởi sự va đập...
- An toàn: LED không gây độc hại, thân thiện với môi trường.

Ứng dụng của LED

LED có rất nhiều ứng dụng trong thực tiễn ngày nay nhưng tựu trung lại bao gồm ba lĩnh vực chính:
- LED làm bộ phận hiển thị trong các thiết bị điện điện tử, đèn quang cáo, trang trí, đèn giao thông...
- LED còn ứng dụng trong lĩnh vực chiếu sáng vì những ưu điểm của nó hoàn toàn có thể thay thế những nguồn sáng thông thường khác.
- LED còn được ứng dụng trong lĩnh vực điện tử viễn thông như trong thiết bị điều khiển từ xa, cảm biến hồng ngoại, công nghệ truyền dữ liệu qua tia hồng ngoại(IrDA), LED UV khử trùng nước.

http://thegioidentrangtri.com/

Lựa chọn đèn compact đúng chất lượng?

Với mức thu nhập bình quân của người dân chưa cao, để “tiêu dùng thông minh” các sản phẩm chiếu sáng tiết kiệm điện, người tiêu dùng cần phải lưu ý rằng ngoài chi phí mua sắm sản phẩm ban đầu, cần phải tính đến các khoản chi phí khác như lắp đặt vận hành, bảo dưỡng, tuổi thọ sản phẩm… Vậy một sản phẩm đèn compact siêu tiết kiệm phải có hiệu suất chiếu sáng cao tương đương hoặc cao hơn đèn sợi đốt có cùng công suất nhưng tiết kiệm điện 80% so với đèn sợi đốt; có độ bền, tuổi thọ trung bình trên 6.000 giờ, gấp hơn 6 lần so với đèn tròn sợi đốt.

Số tiền tiết kiệm được = (**) - (*) = 367.500 - 91.000 = 276.500 ðồng(tham khảo nguồn sản phẩm Compact Ðiện Quang công suất 14W có ðộ bền trên 6.000 giờ)
Hiện trên thị trường có rất nhiều chủng loại đèn compact với nhiều nhãn hiệu và xuất xứ, giá thành và chất lượng hàng hóa khác nhau. Người tiêu dùng cần lưu ý với các sản phẩm đèn compact có xuất xứ từ Trung Quốc có mức giá trung bình từ 12.000 - 20.000 đồng/sản phẩm thường không có tính năng tiết kiệm điện. Vì các bóng đèn này thường được sản xuất, lắp ráp ở quy mô thủ công, không theo một quy trình công nghệ; chất lượng sản phẩm không được kiểm tra nghiêm ngặt; không ứng dụng công nghệ phủ bột huỳnh quang Tricolor Phospor cho hiệu suất ánh sáng cao; không sử dụng các linh kiện điện tử tốt; tuổi thọ bóng rất thấp...

Như vậy, người tiêu dùng nên thay đổi theo thói quen chọn mua những sản phẩm đèn compact giá rẻ vì sẽ lãng phí rất nhiều những khoản chi phí trong quá trình sử dụng như chi phí tổn hao điện cao mà hiệu suất chiếu sáng thấp; chi phí thay thế sản phẩm bị hư hỏng vì có tuổi thọ thấp; tính ổn định trong chiếu sáng không cao ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng… Để thực sự tiết kiệm, người tiêu dùng nên lựa chọn những sản phẩm của các thương hiệu uy tín trên thị trường, như dòng thiết bị chiếu sáng của Điện Quang... Công ty Điện Quang đang phát triển mạnh các sản phẩm đèn compact siêu tiết kiệm nhằm thay thế bóng đèn sợi đốt như chủng loại 2U, 3U, xoắn với công suất từ 5W – 20W, đa dạng màu sắc như ánh sáng ban ngày, ánh sáng trắng ấm. Các sản phẩm co
mpact Điện Quang đạt tính năng tiết kiệm điện cao, tiết kiệm 80% điện năng so với bóng đèn tròn, tuổi thọ trên 6.000 giờ, và có dịch vụ bảo hành sản phẩm 15 tháng.
Xin Tư Vấn Về Đèn Trang Trí Trong Nhà?

1. Phòng Khách:

Để chọn kích thước đèn chùm phù hợp có thể căn cứ vào công thức sau:

Nếu chiều cao trần (L) khoảng 3m: H = 1/5L (H là độ dài của đèn chùm).

Nếu chiều cao trần (L) lớn hơn 3m: H = 1/4L (H là độ dài của đèn chùm).

Đèn Chùm có nhiều kiểu dáng và nhiều chất liệu, tùy chọn theo ý thích và theo kinh phí đầu tư.

2. Phòng Sinh Hoạt Chung:

_ Sử dụng đèn thả 3 bóng hoặc thả nhiều bóng nhằm tạo không khí sinh động, trẻ trung.  Cũng có thể sử sụng đèn áp trần Led nhấp nháy theo điệu nhạc. Điểm xuyến thêm đèn tường ở một vài điểm tùy cách bố trí đồ vật trong nhà.

3. Phòng Ăn:

_ Sử dụng đèn thả pha lê hoặc đèn chùm ý, tạo nét thanh thoát nhẹ nhàng. loại đèn này sử dụng ánh sáng vàng tạo không khí ấm cúng cho phòng ăn.

_ Đèn mắt ếch sử dụng cho tủ bếp, cũng có thể sử dụng dây Led 1 màu nếu không gian tủ bếp không đủ rộng.

4. Phòng tắm:

_ sử dụng đèn soi gương gắn ở phía trên kiếng soi khu vực lavabo, đèn áp trần nhựa ( hay chất liệu khác) gắn trên trần phòng tắm.

5. Phòng ngủ:

_ sử dụng đèn tường hay đèn áp trần đều thích hợp.

6. Cầu thang: sử dụng đèn tường hay đèn chống thấm 2 đầu đều thích hợp.

7. Ban công, sân thượng, hiên: sử dụng đèn lon nổi, đèn bánh tiêu ( đèn áp trần), đèn hành lang thì cũng đều thích hợp.

8. Cổng , hàng rào: gắn đèn trụ cổng, đèn vách ngoại thất đều tạo được điểm nổi bậc.

Làm sao để tiết kiệm điện chiếu sáng?

Đèn là nguồn sáng và là bộ phận quan trọng nhất của các dụng cụ chiếu sáng. Có nhiều loại đèn phát sáng dựa trên các quy luật vật lý khác nhau. Bộ đèn gồm có bóng đèn và các linh kiện bổ sung như chao đèn, đui, chấn lưu... đảm bảo các chức năng về điện, về quang và về cơ học.

1. Những đặc điểm chung của đèn
Phân loại đèn chiếu sáng trên thị trường
Theo nguyên lý hoạt động ta có thể phân chia các đèn thành hai nhóm lớn là:
- Đèn sợi đốt là loại đèn được phát sáng khi đốt nóng. Trong đèn sợi đốt có hai loại là đèn sợi đốt thông thường và đèn sợi đốt có bổ sung khí halogen.
- Đèn phóng điện là loại đèn sử dụng phương pháp phóng điện hồ quang để chiếu sáng. Trong loại đèn phóng điện trong chất khí gồm 4 nhóm: đèn huỳnh quang, đèn thuỷ ngân, đèn Natri (Sodium) và đèn Halogen kim loại (Metal Halide).

Về hình dạng, có thể phân loại như đèn dạng ống tròn và đèn sợi đốt, đèn nấm, đèn uốn cong, đèn giọt lệ...
Loại đèn chúng ta thường sử dụng là bóng đèn sợi đốt thông thường, đèn sợi đốt bổ sung khí halogen, đèn huỳnh quang ống và đèn huỳnh quang compact.
1.1. Đèn sợi đốt
Bóng đèn sợi đốt có công suất từ 25-40-60 cho đến 200-300W, tuổi thọ trung bình 1.000 giờ, cho nguồn ánh sáng vàng.
Hiệu quả ánh sáng từ 10-20lm/W.
Ưu điểm cơ bản của đèn sợi đốt là có chỉ số hiện mầu rất cao gần bằng 100 cho phép sử dụng trong chiếu sáng chất lượng cao.
Nhược điểm của đèn sợi đốt là hiệu suất sử dụng của các loại bóng đèn nung sáng chỉ đạt 6-7% so với lượng điện tiêu hao, 94% lượng điện tiêu hao cho phát nhiệt.
1.2. Bóng đèn sợi đốt Halogen
Đèn sợi đốt bổ sung khí Halogen làm tăng hiệu quả phát sáng từ 20-27lm/W, tuổi thọ trung bình 2.000giờ.
Các đèn sợi đốt halogen công suất từ 40-300W dùng cho chiếu sáng chất lượng màu cao, tuy nhiên hiệu quả năng lượng thấp.
Đèn sợi đốt halogène thường được dùng làm trang trí với độ dày đặc của vô số bóng đèn, nên sử dụng loại công tắc có chức năng điều chỉnh lượng ánh sáng (bộ chiết áp) để phối hợp với đèn halogène trong bố trí cho phòng ngủ, phòng khách.
1.3. Đèn huỳnh quang
- Bóng đèn huỳnh quang thông thường (ký hiệu là T10) có đường kính 32mm với công suất 40W (chiều dài bóng 1,2m) và công suất 20W (0,6m), tuổi thọ trung bình 6.000-8.000giờ.
- Bóng đèn huỳnh quang tiết kiệm điện năng (ký hiệu là T8) có đường kính 26mm với công suất 36W (chiều dài bóng 1,2m) và công suất 18W (0,6m), tuổi thọ trung bình 6.000-8.000giờ.
- Hiệu quả ánh sáng từ 40-90lm/W.
- Đèn huỳnh quang cho nguồn ánh sáng trắng, tiết kiệm điện hơn so với bóng đèn sợi đốt cho ánh sáng vàng.
- Khi thay thế các loại đèn huỳnh quang T8, người tiêu dùng sẽ không phải thay đổi các loại choá đèn, máng đèn, …. Cả hai loại bóng đèn huỳnh quang T8 và T10 đều sử dụng chung các thiết bị phụ trợ kể trên.
- Để sử dụng tiết kiệm điện nên dùng trọn bộ gồm đèn huỳnh quang T8 và chấn lưu điện tử hoặc sắt từ tổn hao thấp.
1.4. Chấn lưu

Chấn lưu sắt từ cũng tiêu thụ công suất khoảng 5-10W đối với đèn huỳnh quang 40W. Để giảm công suất tiêu tán này có thể thực hiện hai giải pháp sau:
- Sử dụng chấn lưu sắt từ có tổn hao thấp. Đó là chấn lưu được chế tạo từ các lá tôn silic chất lượng cao. Với việc sử dụng đèn huỳnh quang T8 và chấn lưu điện từ tổn hao thấp có thể tiết kiệm điện năng từ 10-20%.
- Sử dụng chất lưu điện tử: Chấn lưu điện tử thực chất là bộ biến tần biến đổi tần số lưới từ 50Hz lên tần số cao 20-40kHz. So với chấn lưu sắt từ thì chấn lưu điện tử có ưu điểm đèn được mồi ngay tức thời, với tần số cao tổn hao công suất trong đèn giảm, quang thông của đèn tăng khoảng 10% do đối hiệu quả của đèn khi làm việc với chấn lưu điện tử tăng 15-20% so với chấn lưu sắt từ. Hiện tượng đèn nhấp nháy bị loại trừ. Chấn lưu điện tử có kích thước nhỏ gọn, không gây tiếng ù. Hệ số công suất cao trên 0,9.
1.5. Đèn huỳnh quang compact

Việc cải thiện chất lượng lớp bột huỳnh quang tạo nên các đèn ống thế hệ mới có chất lượng màu và hiệu quả chiếu sáng cao cho phép chế tạo đèn ống gầy và có khả năng tích hợp đèn, chấn lưu, tắc te thành một khối gọi là đèn compact. Đèn compact là đèn huỳnh quang đặt biệt trong đui đèn thông dụng (đui xoáy và đui gài) có tích hợp chấn lưu điện tử. Vì thế thay thế đèn sợi đốt bằng đèn compact đơn giản.
- So với đèn sợi đốt cùng quang thông công suất của đèn compact chỉ bằng một phần năm. Dải công suất của các đèn compact từ 5-55W, tuổi thọ trung bình từ 6.000- 10.000 giờ. Hiệu quả ánh sáng đặt trên 50lm/W, có ánh sáng trắng như đèn huỳnh quang ống và ánh sáng vàng như đèn sợi đốt.
- Bóng đèn compact có đường kính ống đèn cực nhỏ được uốn cong hoặc ghép nhiều ống đèn thành một bộ. Có các loại bóng với kiểu dáng thông dụng như 1U, 2U, 3U và hình xoắn; đây chủ yếu là sự thay đổi về hình thức chứ không ảnh hưởng đến yếu tố kỹ thuật. Bóng đèn 3U sẽ được sản xuất với quy trình phức tạp hơn so với bóng 2U do phải nối thông các nhánh đèn. Đồng thời, trên thị trường, các loại bóng đèn 3U có công suất lớn vẫn giữ được kích thước nhỏ gọn như bóng 2U. Thông thường, bóng compact loại 2U có công suất dưới 20W, nếu bóng đèn có công suất lớn hơn sẽ có chiều dài lớn hơn so với loại công suất nhỏ.
- Ưu điểm của đèn compact so với bóng đèn sợi đốt là tiết kiệm điện, sáng hơn, hiệu suất sử dụng cao. Nếu so với đèn huỳnh quang ống thẳng, đèn compact gọn hơn, việc lắp đặt cũng đơn giản hơn.
- Ngoài ưu thế tiết kiệm điện năng, bóng đèn compact còn giảm thiểu sự nhấp nháy ánh sáng (flicker) do được trang bị chấn lưu điện tử so với đèn huỳnh quang ống thẳng (thường dùng chấn lưu điện từ).
- Bóng đèn compact khi thay cho bóng đèn sợi đốt sử dụng lại đuôi đèn cũ. Do đó, người tiêu dùng chỉ mua bóng đèn mới để lắp đặt một cách đơn giản, không đòi hỏi thay đổi đáng kể nào về kỹ thuật.
- Tuy mức đầu tư ban đầu của bóng đèn compact cao hơn so với bóng đèn sợi đốt nhưng người tiêu dùng sẽ có lợi về mức độ tiêu thụ điện. Giá một bóng đèn compact từ 20.000đ - 60.000đ còn bóng đèn sợi đốt là 2.500đ. Nhưng hiệu quả tiết kiệm điện của đèn compact mang lại rất lớn do giảm lượng tiêu hao điện năng gấp 5 lần và tuổi thọ gấp 5 lần so với bóng đèn sợi đốt.
- Các nhà sản xuất bóng đèn đã tính toán rằng, khi dùng đèn compact sẽ tiết kiệm được 30 - 50 lần so với khi sử dụng đèn sợi đốt. Tuổi thọ của đèn compact (tuỳ loại) dao động trong khoảng 6.000 - 10.000 giờ, còn đèn sợi đốt thường chỉ đạt mức trên dưới 1.000 giờ.
- Bóng đèn compact chủ yếu được dùng để thay thế cho bóng đèn sợi đốt, không thích hợp cho việc chiếu sáng chung (diện tích lớn), thích hợp cho việc chiếu sáng cục bộ trong các căn phòng có diện tích nhỏ (nhà tắm, nhà kho, chân cầu thang…).
- Mặc dù về nguyên tắc vẫn có thể dùng đèn compact để thay thế cho đèn huỳnh quang ống thẳng nhưng do hiệu quả tiết kiệm điện mang lại không lớn nên người ta ít khi áp dụng. Đồng thời, nếu thay thế bằng đèn compact sẽ phải gắn nhiều đèn hơn (do công suất thấp) trên cùng một diện tích, việc thiết kế đường dây cũng phức tạp hơn. Ví dụ: để thay thế 4 bóng đèn huỳnh quang ống thẳng với tổng công suất 80W, người ta phải sử dụng đến 8 bóng đèn compact (dưới 20W/bóng).

2. Tóm tắt các biện pháp tiết kiệm điện năng trong chiếu sáng
Điện năng cho chiếu sáng thường chiếm trên 20% tổng điện năng tiêu thụ, hơn nữa đèn được sử dụng vào giờ cao điểm khi mà phụ tải đỉnh rất lớn buộc hệ thống điện phải huy động toàn bộ công suất, do đó vấn đề chiếu sáng hiệu quả và tiết kiệm điện cần được quan tâm. Sau đây là những giải pháp chủ yếu:
- Sử dụng các đèn có hiệu quả sáng (lumen/W) lớn nhất. Trong chiếu sáng trong nhà các đèn huỳnh quang compact tiêu thụ điện năng chỉ bằng điện năng của đèn sợi đốt khi có cùng quang thông, vì thế cần thay thế việc sử dụng đèn sợi đốt bằng đèn compact.
- Cần thay thế đèn huỳnh quang T10-40W bằng các đèn T8-36W và 32W.
- Sử dụng bộ đèn với máng phản xạ tốt thích hợp với mục đích và địa điểm sử dụng làm tăng hệ số sử dụng quang thông của đèn.
- Sử dụng chấn lưu điện tử tiêu thụ công suất nhỏ và có hệ số công suất cao và chấn lưu sắt từ tổn hao thấp.
- Sử dụng triệt để ánh sáng tự nhiên sẵn có.
- Bạn nên quét vôi hoặc sơn lăn tường nhà bằng màu sáng bởi vì chỉ cần bật ít đèn mà nhà vẫn sáng bởi tính tương phản của màu tường hoặc đồ vật trong nhà. Do đó bạn sẽ giảm được lượng bóng đèn trong nhà.
- Nhưng bạn đừng quên tắt đèn khi ra khỏi phòng, đấy là biện pháp tiết kiệm điện mà không mất chi phí.

http://thegioidentrangtri.com/

Tuổi thọ của bóng đèn Led là bao nhiêu?

Các đèn Led không sử dụng dây tóc nóng sáng mà là các diot bán dẫn nên có tuổi thọ cao khoảng 100.000 giờ sử dụng (So với 2000 giờ của bóng dây tóc). Bóng Led ít tạo nhiệt, không ảnh hưởng đến vật liệu xung quanh. Một bóng led nhỏ chỉ tiêu thu khoảng 0,1W và hiệu suất phát sáng là 50lm/W. Ngoài ra, có thể lập trình các chế độ đổi màu khác nhau dễ dàng. Bóng led đang ngày càng được sử dụng phổ biến do những ưu điểm của nó.

Tuổi thọ của bóng đèn dây tóc là bao nhiêu?

Bóng đèn dây tóc bình thường có tuổi thọ khoảng 2000 giờ sử dụng. Tuy nhiên khi sử dụng thiết bị điều chỉnh độ sáng dimmer cho bóng dây tóc sẽ làm tăng tuổi thọ bóng đèn lên. Cụ thể như, khi sử dụng dimmer dùng 30% công suất bóng đèn thì tuổi thọ bóng tăng lên 70%. Tuổi thọ của bóng đèn còn phụ thuộc vào khả năng giải nhiệt của bộ đèn (Fixture). Bóng đèn dây tóc nhanh bị cháy là do sử dụng với bộ đèn không hợp bộ, giải nhiệt kém. Trên thị trường hiện nay đã có loại bóng đèn halogen dây tóc có tuổi thọ lên đến 10.000 giờ sử dụng.

Xin cho biết hành trình của ánh sáng và chiếu sáng?
Thuở ban đầu chỉ có bóng tối và giá lạnh. Không có mặt trời, ánh sáng, không có đất, không có chiếu sáng mà chỉ có khoảng không trống rỗng. Theo giả thuyết tinh vân học được nhà triết học người Đức Immanuel Kant đưa ra lần đầu tiên vào năm 1755, khoảng 4.5 tỷ năm về trước, một xoáy tinh vân, - một đám khổng lồ của khí và bụi được hình thành. Cuối cùng đám bụi khí đó co lại và cuộn thành một khối nóng chảy tròn trịa và trở thành mặt trời của chúng ta. Lúc đầu mặt trời là khối nóng chảy sáng rực rỡ. Áp suất trong lõi của khối ngày càng tăng nên nhiệt độ tăng đến hàng triệu độ – và các ngôi sao được sinh ra. Do quá trình nhiệt hạch, mặt trời bắt đầu chiếu sáng.


Từ xa xưa, người tiền sử sử dụng những ngọn đèn thô sơ để chiếu sáng hang động của mình. Những đèn đó làm từ những vật liệu sẵn có như đá, vỏ cây, sừng thú vật chứa mỡ và ngọn bấc. Thông thường sử dụng mỡ động và thực vật.
Trong nền văn minh cổ đại của Babylon và Ai cập ánh sáng là xa xỉ. Những đêm Ả rập khác xa với những đêm rực rỡ hôm nay. Cung điện của những kẻ giầu có chỉ được chiếu sáng bằng những ngọn đèn dầu bập bùng. Chúng thường có dạng giống cái bát có miệng hoặc vòi chứa bấc đèn. Mỡ động vật, dầu cá hoặc dầu thực vật (cây cọ hoặc ôiu) chính là nhiên liệu.
  Năm 1809, Humphrey Davy lần đầu tiên biểu diễn đèn hồ quang carbon tại Viện Hoàng Gia ở London. Năm 1877, những ngọn đèn hồ quang được treo bên ngoài Nhà hát kịch Balê Pari. Chúng giống như những ngọn nến, bên trong có hai thanh carbon đồng trục phát sáng khi được tách nhau. Đèn hồ quang xuất hiện đúng vào thời điểm lịch sử khi mà điện đã rời bỏ phòng thí nghiệm đi vào cuộc sống thường ngày. Đó là thời gian của các xe ngựa treo đèn hơi đốt, khi mà nội chiến ở Mỹ vừa qua đi được hơn mười năm. Đối với nhiều người, đèn hồ quang là một thiết bị điện đầu tiên mà họ nhìn thấy.
Tháng 1 năm 1879, tại phòng thi nghiệm của mình tại Menlo Park, New  Jersey, Thomas Alva Edison – một trong những nhà phát minh nổi tiếng nhất của mọi thời đại đã chế tạo bóng đèn điện sợi đốt đầu tiên. Đèn phát sáng khi dòng điện đi qua dây tóc mỏng platin đặt trong một bóng thuỷ tinh hút chân không để chống ôxy hóa. Lúc đó, đèn chỉ cháy trong vài giờ. Chiếc đèn hiệu quả đầu tiên dùng dây tóc là sợi vải tẩm carbon. Trưa ngày 21 tháng 10 năm 1879, mẫu đèn đầu tiên của Edison đã cháy trong 45 giờ. Ngày hôm sau Edison bắt đầu thí nghiệm mới dùng bìa các tôn tẩm carbon làm dây tóc. Vào đêm giao thừa 31 tháng 12 năm 1879 Edison biểu diễn trước công chúng phát minh của ông tại công viên Menlo, New Jersey. Năm 1880, ngày 17 tháng giêng, bằng phát minh số 223,898 được cấp cho Edison vì bóng điện này. Đó là thành quả của sự cải tiến liên tục của Edison làm cho đến tận năm 1879. Mặc dù đã hơn trăm năm qua chiếc bóng đèn này vẫn giống như những chiếc bóng đèn đang chiếu sáng các ngôi nhà hiện nay. Đui đèn của chiếc bóng đèn thế kỷ 19 này vẫn giống như đui đèn ta dùng ngày nay (H. I.1.6a). Đó là một trong các đặc điểm quan trọng nhất của chiếc bóng đèn và hệ thống điện của Edison. Chiếc nhãn dán trên bóng đèn có dòng chữ (xem hình H. I.1.6b), “New Type Edison Lamp. Patented Jan. 27, 1880 OTHER EDISON PATENT.”

Edison đã phát minh ra đèn sợi đốt và lịch sử cũng chứng kiến hàng loạt những cải tiến kỳ diệu và những công nghệ chiếu sáng mới.
Đèn phóng điện công suất cao (HID) đã được sử dụng thay cho đèn sợi đốt từ những ngày đầu của thế kỷ 20.
Chiếc đèn HID là đèn hơi thủy ngân của Peter Cooper Hewitt chế tạo năm 1901. Đó là một bóng dài khoảng 1.2 mét cho ánh sáng màu xanh – xanh lá cây.
Những chiếc đèn hơi thủy ngân dày dặn chắc chắn giống như những chiếc đèn sử dụng ngày nay đã được đưa vào sử dụng năm 1934 với công suất 400 W.
Những nghiên cứu về đèn hơi Natri áp suất thấp bắt đầu từ những năm 1920. Những ứng dụng thương mại đầu tiên được dùng cho chiếu sáng các đại lộ nối vùng Beek và Geleen ở phía bắc của Netherlands ngày 1 tháng 7 năm 1932. Cũng trong năm này, đường Purley Way ở London cũng được chiếu sáng bằng loại đèn này. Đèn hơi Natri áp suất thấp dễ nhận biết bởi màu vàng hổ phách của mình.
Đèn huỳnh quang được trình diễn trước công chúng tại hội chợ quốc tế tại New York vào năm 1937. Loại đèn này được thương mại hóa khoảng năm 1938. Đèn huỳnh quang thuộc loại nguồn sáng phóng điện áp suất thấp, ánh sáng được phát ra bởi bột huỳnh quang sau khi chúng được kích thích bằng các tia cực tím phát ra bởi phóng điện của hơi thủy ngân.
Đèn sợi đốt dây tóc Vonfram có pha hơi nguyên tố halogen được sáng chế vào năm  1957 và đưa vào sử dụng năm 1960 để chiếu sáng phối cảnh trong các nhà hát kịch. Bóng đèn sợi đốt vonfram thường bị đen với thời gian do vonfram bay hơi khỏi dây tóc và bám lên thành của bóng đèn. Hơi halogen dùng để tự làm sạch. Khi các nguyên tử vonfram bay hơi khỏi dây tóc chúng sẽ kết hợp với các nguyên tử halogen và lắng đọng trở lại chính trên dây tóc.
Đèn hơi kim loại halide được phát triển vào khoảng năm 1960. Đèn halide thuộc loại đèn phóng điện trong môi trường hơi thủy ngân áp suất cao có pha thêm hơi của các nguyên tố halogen.
Đèn hơi Natri áp suất cao được sử dụng rộng rãi ngay từ khi chúng ra đời vào năm  1966. Đèn này cho độ rọi lớn hơn đèn thủy ngân, huỳnh quang hoặc sợi đốt và có màu tự nhiên hơn so với đèn Natri áp suất thấp.
Một trong những phát triển mới nhất và gây sự chú ý nhất của công nghệ chế tạo các nguồn sáng là của công ty Fusion Lighting (Mỹ) với sự trợ giúp của Uỷ ban Năng lượng Mỹ là đèn cảm ứng không điện cực dùng môi trường hơi sulphur chế tạo năm 1994.
Sự ra đời của đèn LED đưa đến sự cáo chung của đèn bóng Edison. Đèn LED có thể làm nhỏ, tiêu hao ít năng lượng, hiệu suất phát quang lớn và tuổi thọ dài. Đèn LED có hiệu suất 10 lần lớn hơn đèn bóng và có tuổi thọ kéo dài khoảng 100.000 giờ so với đèn bóng là 1000 giờ. Hiện nay, đèn LED được áp dụng ở khắp mọi nơi, từ cái đèn pin, đèn nhấp nháy xe đạp, đèn hiệu ô tô đến những màn hình tivi khổng lồ treo ở các tòa nhà trong thành phố.
Sự phát triển chậm chạp của công nghệ chiếu sáng có thể chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn đầu kéo dài từ thuở ban đầu đến năm 1900 và đặc trưng bởi việc “chiếu để mà sáng(lighting for light)” và những nỗ lực tìm kiếm những nguồn sáng tự nhiên để xua đi bóng tối. Khoảng nửa thế kỷ 20,  sau khi thay sợi đốt carbon bằng sợi vonfram, hàng năm hàng tỷ đèn sợi đốt được sản xuất. Mối quan tâm trong giai đoạn này là tăng độ rọi của nguồn sáng chứ chưa phải là chất lượng của ánh sáng.
Sự xuất hiện của các nguồn sáng phóng điện công suất cao và huỳnh quang đánh dấu một bước tiến mới của công nghệ chiếu sáng. Trong khoảng 90 năm (từ 1900 đến 1990) nhiều nguồn sáng dùng điện khác nhau đã được sản xuất bằng các công nghệ hiện đại khác nhau. Giai đoạn này có thể gọi là giai đoạn chiếu sáng phổ (spectral lighting), điều này có nghĩa là nhà sản xuất và người tiêu dùng quan tâm không chỉ cường độ sáng mà cả những đặc trưng quang trắc của nguồn sáng.
Từ năm 1990 đến nay công nghệ chiếu sáng dần dần chuyển sang công nghệ chiếu sáng tiện ích (high-benefit lighting) đặc trưng bằng sự tiếp tục cải tiến các nguồn sáng hiệu quả năng lượng (energy-efficient lighting), nâng cao phẩm chất của ánh sáng, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.

Hiển thị từ 1 đến 10 (của 29 tư vấn)
123
1

Đèn trang trí Bán chạy

Đèn trang trí Giảm giá

  • Đèn Ốp Trần Led LK@4.AT017 Ø500

    Đèn Ốp Trần Led LK@4.AT017 Ø500

    Mua hàngMô tảGiá: 1.874.000đ1.200.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1208 Ø900

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1208 Ø900

    Mua hàngMô tảGiá: 34.900.000đ32.806.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1162 Ø1000

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1162 Ø1000

    Mua hàngMô tảGiá: 45.600.000đ42.864.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1175 Ø700

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1175 Ø700

    Mua hàngMô tảGiá: 28.130.000đ26.442.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1174 Ø800

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1174 Ø800

    Mua hàngMô tảGiá: 41.630.000đ39.132.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1180-20 Ø1000

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1180-20 Ø1000

    Mua hàngMô tảGiá: 34.880.000đ32.787.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1180-16 Ø820

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1180-16 Ø820

    Mua hàngMô tảGiá: 26.500.000đ24.910.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1180-24+6 Ø1050

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1180-24+6 Ø1050

    Mua hàngMô tảGiá: 46.250.000đ43.475.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1204 Ø1000

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1204 Ø1000

    Mua hàngMô tảGiá: 48.380.000đ45.477.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng UCD1103 Ø1150

    Đèn Chùm Nến Đồng UCD1103 Ø1150

    Mua hàngMô tảGiá: 49.900.000đ46.906.000đ

  • Đèn Chùm Nến Đồng SUN009 Ø1000

    Đèn Chùm Nến Đồng SUN009 Ø1000

    Mua hàngMô tảGiá: 34.900.000đ32.806.000đ

  • Đèn Áp Trần Đồng NLNM782B Ø400

    Đèn Áp Trần Đồng NLNM782B Ø400

    Mua hàngMô tảGiá: 4.920.000đ4.625.000đ

  • Đèn Áp Trần Đồng NLNM782A Ø300

    Đèn Áp Trần Đồng NLNM782A Ø300

    Mua hàngMô tảGiá: 3.280.000đ3.083.000đ

  • Đèn Áp Trần Đồng NLNM781A Ø300

    Đèn Áp Trần Đồng NLNM781A Ø300

    Mua hàngMô tảGiá: 3.280.000đ3.083.000đ

  • Đèn Áp Trần Đồng NLNM009B Ø400

    Đèn Áp Trần Đồng NLNM009B Ø400

    Mua hàngMô tảGiá: 3.360.000đ3.158.000đ

  • Đèn Áp Trần Đồng NLNM009A Ø300

    Đèn Áp Trần Đồng NLNM009A Ø300

    Mua hàngMô tảGiá: 2.430.000đ2.284.000đ

  • Đèn Áp Trần Đồng NLNM007 Ø450

    Đèn Áp Trần Đồng NLNM007 Ø450

    Mua hàngMô tảGiá: 2.820.000đ2.651.000đ

  • Đèn Chùm Pha Lê Nến Đồng NLNC88008-15 Ø1000

    Đèn Chùm Pha Lê Nến Đồng NLNC88008-15 Ø1000

    Mua hàngMô tảGiá: 40.870.000đ38.418.000đ

  • Đèn Chùm Pha Lê Nến Đồng NLNC88008-10

    Đèn Chùm Pha Lê Nến Đồng NLNC88008-10

    Mua hàngMô tảGiá: 32.220.000đ30.287.000đ

  • Đèn Chùm Pha Lê Nến Đồng NLNC9922-15 Ø1000

    Đèn Chùm Pha Lê Nến Đồng NLNC9922-15 Ø1000

    Mua hàngMô tảGiá: 26.680.000đ25.079.000đ

  • Kết nối 24/7

    THẾ GIỚI ĐÈN TRANG TRÍ ĐÃ ĐĂNG KÝ VỚI BỘ CÔNG THƯƠNGTHẾ GIỚI ĐÈN TRANG TRÍCÔNG TY THẾ GIỚI ĐÈN TRANG TRÍ HƯỚNG DẪN MUA HÀNGTHẾ GIỚI ĐÈN TRANG TRÍ MIỄN PHÍ GIAO HÀNG TẠI TPHCMTHẾ GIỚI ĐÈN TRANG TRÍ - thegioidentrangtri.comCÔNG TY TNHH THẾ GIỚI ĐÈN TRANG TRÍTHẾ GIỚI ĐÈN TRANG TRÍ BẢO HÀNH 12 THÁNG